Lương Y Nguyên Viết Hương

Giấy phép số 442/CCHN, Sở Y Tế Quảng Nam cấp. 

BỆNH TIM MẠCH

Tôi lương y Nguyễn Viết Hương, qua 30 năm kinh nghiệm chữa trị bằng đông y đến nay đã bào chế được bài thuốc hữu hiệu cho bệnh tim mạch mà không cần phải mổ. Các bệnh nhân chỉ cần uống một đợt 25 ngày đến 1 tháng là tất cả các chứng mệt, khó thở tái đi tái lại nhiều lần, nay sẽ được điều trị tận gốc. Thuốc đã được chế biến thành viên hoàn sử dụng dễ dàng cho bệnh nhân làm việc xa nhà. Nếu bạn đã chữa trị thuốc tây y không hiệu quả hoặc hay tái phát, giờ đây bạn chỉ cần dùng 1 đợt là sẽ đem lại sự bất ngờ chưa từng thấy. Chỉ cần 500 ngàn đồng uống 25 ngày đến 1 tháng, với phương châm tiết kiệm và hiệu quả nhằm phục vụ cho nhiều tầng lớp nhân dân, đem lại hạnh phúc cho mọi nhà.

    Nếu bạn hoặc người thân của bạn có triệu chứng mệt, khó thở, nhức đầu huyết áp cao, thậm chí có đau khớp mãn tính kèm theo như gai khớp gối, đau lưng đi lại và co dũi khó khăn, có khi các triệu chứng nặng dần lên đe dọa tính mạng của người bệnh. Các chứng này sẽ thoái lui khi dùng thuốc, đồng thời sức đề kháng của bạn ngày càng được hồi phục nhanh, ăn ngủ sẽ tăng lên hàng ngày.
    Thuốc đông y có tác dụng chữa gốc bệnh vì vậy mà hàng loạt bệnh đều rút lui nhẹ nhàng. Thuốc tây y có ý nghĩa cấp cứu giải quyết nhanh nhưng không hết hẳn  và để lại độc tố cho cơ thể . Còn thuốc đông y không nhanh nhưng hiệu quả lâu dài thường chữa gốc bệnh, lấy sự phục hồi, tăng cường miễn dịch và đề kháng làm nền tảng. Vì vậy rất phù hợp cho người già và trẻ em có sức đề kháng kém và bệnh mãn tính. 
 Hãy liên lạc số 0903 581 114 ; 0905 432 034,  ĐT bàn 05103 873 045.
LY nguyễn Viết Hương, Đ/c Quốc lộ 1 A, thôn Kế Xuyên, xã Bình Trưng huyện Thăng Bình, Quảng Nam. (thuốc sẽ gửi tận tay tại cơ sở hoặc bằng chuyển phát nhanh qua bưu điện cho bênh nhân ở xa) 

Bệnh động mạch vành là gì?

Bệnh động mạch vành là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Các tên gọi khác của bênh này là bệnh mạch vành, bệnh tim mạch vành, bệnh tim do xơ vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ. Bệnh chủ yếu là sự tích tụ mảng xơ vữa động mạch bên trong thànhđộng mạch cung cấp máu đến cơ tim.

tac nghen dong mach vanh phai do vua xo dong mach Phòng chống bệnh động mạch vành ở người cao tuổi\

Tắc nghẽn động mạch vành (coronary aetery)do xơ vữa động mạch

Các nguyên nhân gây bệnh

1- Các yếu tố nguy cơ lớn không thể thay đổi được

Lớn tuổi: Khoảng 82% người tử vong vì bệnh đông mạch vành là từ 65 trở lên. Khi lớn tuổi, bệnh nhân nữ bị đau tim thường dễ bị tử vong vì đau tim trong vòng vài tuần hơn nam giới.

Giới tính: Nam giới có nguy cơ bị đau tim cao hơn phụ nữ và bị sớm hơn. Ngay cả sau giai đoạn mãn kinh, khi tỉ lệ tử vong phụ nữ do bệnh tim tăng lên thì cũng không bằng nam giới.

Yếu tố di truyền (kể cả chủng tộc): Trẻ có cha mẹ bệnh tim thì dễ bị mắc bệnh này. Người Mỹ gốc Phi bị cao huyết áp nặng hơn người gốc châu Âu và có nguy cơ mắc bệnh tim lớn hơn. Nguy cơ mắc bệnh tim cũng cao hơn trong số các sắc dân người Mỹ gốc Mễ, người Mỹ gốc Da đỏ, người Hawai bản địa và một số sắc dân Mỹ gốc Á. Điều này một phần là do tỷ lệ béo phì và tiểu đường cao hơn.
P
hần lớn người có tiền sử gia đình mạnh về bệnh tim có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ khác nữa.

2- Các yếu tố nguy cơ lớn có thể thay đổi, điều trị hay kiểm soát bằng cách thay đổi lối sống hay thuốc

Hút thuốc lá: Hút thuốc lá làm giảm nồng độ ôxy trong máu, làm tổn thương và suy yếu thành động mạch Người hút thuốc lá có nguy cơ tử vong vì bệnh động mạch vành gấp 2-3 lần người không hút thuốc. Hút thuốc lá cũng tác động cùng với các yếu tố nguy cơ khác để làm tăng thêm nguy cơ mắc mệnh động mạch vành Người hút xì-gà hay hút bằng tẩu dường như có nguy cơ tử vong vì bệnh này (và có thể cả đột quỵ nữa) cao hơn người bình thường nhưng không cao bằng người hút thuốc lá. Tiếp xúc với khói thuốc lá của người khác làm tăng nguy cơ gây bệnh tim kể cả đối với những người không hút thuốc.

Cholesterol trong máu cao: Khi cholesterol máu tăng, nguy cơ mắc bệnh động mạch vành cũng tăng theo. Khi có các yếu tố nguy cơ khác (chẳng hạn như huyết áp cao và hút thuốc lá), nguy cơ này thậm chí còn tăng cao hơn nữa. Mức cholesterol có thể thay đổi dưới tác động của tuổi tác, giới tính, tiền sử sức khỏe gia đình và chế độ ăn uống.

Cao huyết áp: Huyết áp cao làm tăng tải lên tim, làm vách tim dày lên và trở nên cứng hơn. Nó cũng làm tăng nguy cơ của bạn bị đột quỵ, đau tim, suy thận và suy tim sung huyết. Khi huyết áp cao xảy ra ở người béo phì, hút thuốc lá, có mức cholesterol trong máu cao hay là tiểu đường thì nguy cơ đau tim hay đột quỵ tăng lên nhiều lần.

Huyết áp phải được giữ ở dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân tiểu đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp cao hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị cao huyết áp . Các bệnh nhân cao huyết áp nên có một chế độ ăn ít muối và nhiều rau, hoa quả và các chế phẩm ít chất béo, cũng như có một chương trình tập thể dục đều đặn. Hầu hết các bệnh nhân cần hơn một thuốc để kiểm soát được trị số huyết áp và nên lựa chọn các thuốc đã được chứng minh là có làm cải thiện tiên lượng của bệnh nhân (thuốc lợi tiểu nhóm thiazid được lựa chọn đầu tiên, nên phối hợp với các thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể AT1 angiotensin và thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng kéo dài).

Hoạt động thể chất: Lối sống ít vận động là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Hoạt động thể chất thường xuyên với cường độ vận động từ vừa đến nặng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch. Cường độ vận động càng cao bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu. Bệnh nhân nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), đồng thời tăng các hoạt động thông thường hằng ngày (làm vườn, làm công việc nội trợ).

Tuy nhiên, ngay cả vận động với cường độ trung bình cũng có ích nếu hoạt động thường xuyên và kéo dài. Hoạt động thể chất thường xuyên có thể giúp kiểm soát cholesterol máu, tiểu đường và béo phì, cũng như giúp làm hạ huyết áp trong nhiều trường hợp.

Béo phì và dư cân: Người có lượng mỡ trong cơ thể quá mức - đặc biệt nếu tích mỡ quá nhiều vùng bụng - dễ bị bệnh tim và đột quỵ ngay cả khi không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào khác. [ Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình là 18,5 – 24,9 kg/m2. Vòng bụng trên 90cm ở nam giới và trên 80cm ở nữ giới ]

Chỉsố khối lượng cơ thề ( body mass index- BMI)

Cân nặng quá mức làm tăng hoạt động tim. Nó cũng làm tăng huyết áp, tăng cholesterol và chất béo trung tính và giảm cholesterol HDL (có lợi). Nó cũng có thể làm cho bệnh tiểu đường dễ phát ra hơn. Nhiều người béo phì và dư cân gặp khó khăn khi giảm cân. Nhưng ngay cả giảm cân ít cỡ chừng 10 pound đi chăng nữa, cũng hạ thấp được nguy cơ bệnh tim mạch.

Tiểu đường: Tiểu đường làm tăng nguy cơ phát bệnh tim mạch. Ngay cả khi nồng độ glucose được kiểm soát, tiểu đường cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ, nhưng các nguy cơ này thậm chí còn cao hơn nữa nếu đường huyết không được kiểm soát tốt. Khoảng 3 phần 4 bệnh nhân tiểu đường tử vong vì nhiều dạng bệnh tim mạch. Những người bị tiểu đường cẩn được điều trị và kiểm soát bất cứ các yếu tố nào khác có thể có là điều cực kỳ quan trọng.

Kiểm soát chặt chẽ đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết  xuống và chế độ ăn để đạt HbA1C < 7%, tốt nhất là HbA1C < 6,5%.

Hậu quả của bệnh động mạch vành

 

Hẹp lòng động mạch vành sẽ gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim, tình trạng này có thể kéo dài lâu ngày. Bệnh nhân sẽ bị đau ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cấp.

 

Khi mảng xơ vữa trong lòng động mạch vành vỡ ra thì sẽ làm bít tắc hoàn toàn động vành và gây ra thiếu máu cơ tim cấp tính, nặng nề, hoại tử cơ tim – còn được gọi là nhồi máu cơ tim cấp. Tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp rất cao. Bệnh nhân qua được cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể sẽ bị suy tim sau nhồi máu cơ tim, bị rối loạn nhịp tim sau nhồi máu cơ tim.

 

 

Triệu chứng của tình trạng thiếu máu cơ tim

 

Đau ngực: triệu chứng của thiếu máu cơ tim thường gặp nhất là đau thắt ngực. Đau khởi phát khi gắng sức, ở ngay sau xương ức, đau nhói, thắt chặt, lan ra vai trái, cánh tay trái, bàn tay trái. Đau giảm đi khi nghĩ tĩnh hoặc khi dùng thuốc dãn mạch. Nếu cơn đau xuất hiện lúc nghỉ tĩnh hoặc cơn đau quá trầm trọng hoặc cơn đau kéo dài trên 30 phút thì phải nghĩ đến là bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp.

 

Cũng có những trường hợp bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim mà không có triệu chứng đau ngực. Những trường hợp đó gọi là thiếu máu cơ tim yên lặng. Trong trường hợp này bệnh nhân có thể có biểu hiện như hở van hai lá, suy tim, rối loạn nhịp tim…

 

Chẩn đoán bệnh động mạch

 

1.Chẩn đoán thiếu máu cơ tim dựa vào việc khai thác triệu chứng đau ngực của bệnh nhân. Những dấu hiệu thể hiện tình trạng thiếu máu cơ tim yên lặng là những chỉ điểm khiến cho bác sĩ  đi tìm thêm về nguyên nhân và phát hiện ra tình trạng thiếu máu cơ tim.

 

2. Chẩn đoán dựa vào điện tâm đồ. Tình trạng thiếu máu cơ tim làm thay đổi về tính chất điện học của tim. Điện tâm đồ có thể phát hiện được những thay đổi về điện học đó. Vì vậy, điện tâm đồ là một công cụ trong chẩn đoán thiếu máu cơ tim. Cũng cần lưu ý là có những tình trạng bệnh lý khác cũng có thể cho ra những dấu hiệu điện tâm đồ giống như thiếu máu cơ tim

 

 

3. Siêu âm tim. Tình trạng thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng đến sự co bóp của tim. Thiếu máu cơ tim ở vùng nào thì cơ tim ở vùng đó sẽ bị rối loạn. Siêu âm tim là một phương tiện giúp cho bác sĩ thấy được sự co bóp của cơ tim. Vì vậy, những vùng giảm động do thiếu máu cơ tim gây ra sẽ được phát hiện bởi siêu âm tim.

 

4. Điện tâm đồ và siêu âm tim lúc gắng sức. Với tình trạng lòng động mạch vành chỉ hẹp ở một mức độ vừa phải thì triệu chứng thiếu máu cơ tim chỉ xảy ra khi gắng sức. Nghĩa là bệnh nhân chỉ đau ngực khi gắng sức và những thay đổi về điện tâm đồ và về siêu âm tim chỉ xuất hiện khi bệnh nhân gắng sức mà thôi. Vì vậy, có những bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim mà điện tâm đồ và siêu âm tim hoàn toàn bình thường. Trong những trường họp này, điện tâm đồ họăc siêu âm tim thực hiện lúc gắng sức sẽ giúp chẩn đoán được tình trạng thiếu máu cơ tim.

 

5. Xạ hình tưới máu cơ tim. Dùng chất đồng vị phóng xạ bơm vào mạch máu. Những vùng nào của cơ tim bị thiếu máu nuôi sẽ giảm hoặc không bắt được chất đồng vị phóng xạ. Dùng máy scan để phát hiện những vùng như vậy và chẩn đoán thiếu máu cơ tim.

 

6. Chụp động mạch vành chọn lọc, cản quang. Phương pháp này được xemlà tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh động mạch vành. Thông qua biện pháp này bácsĩ  biết được tình trạng của hệ thống động mạch vành của bệnh nhân: hẹp, tắc, tại đâu, bao nhiêu mạch máu bị tổ thương…

 

7. Chụp CT đa lớp cắt. Phương tiện này giúp phát hiện tình trạng vôi hoá động mạch vành chứ không giúp chẩn đoán tình trạng thiếu máu cơ tim. Hiện nay phương tiện này chưa được công nhận trong qui trình chẩn đoán thiếu máu cơ tim.

 

Điều trị bệnh động mạch vành

 

Hiện tại có 3 phương pháp điều trị bệnh động mạchvành:

 

1-Điều trị nội khoa (dùng thuốc):

 

-. Điều trị các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành để bệnh không tiến triển nặng thêm: điều trị tăng huyết áp, điều trị rối loạn lipide máu, điều trị tiểu đường, bỏ hút thuốc lá, giảm cân nặng đạt cân nặng lý tưởng, thay đổi lối sống…

-. Điều trị phòng ngừa nhồi máu cơ tim cấp: dùng các loại thuốc kháng kết dính tiểu cầu để phòng ngừa đông máu gây tắc mạch vành: Aspirine,Clopidogrel…

-. Điều trị chống cơn đau thắt ngực bằng các loại thuốc dãn mạch.

 

2-Điều trị can thiệp động mạch vành (nong rộng lòng động mạch, đặt nong –stent- trong lòng đông mạch vành).

 

- Dùng cho các trường hợp đau ngực do thiếu máu cơ tim mà ít hoặc không đáp ứng với thuốc điều trị nội khoa.

- Dùng cho các trường hợp bị đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim cấp.

 

 

 

3-Điều trị phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (bypass)

 

- Dùng cho các trường hợp động mạch  vành bị tổn thương nhiều chổ, tổn thương kéo dài… cho các trường hợp mà can thiệp động mạch vành không thể thực hiện được.

- Đây là một cuộc mổ lớn, dùng các mạch máu khác của ngay chính bản thân bệnh nhân để làm cầu nối qua chỗ động mạch vành bị hẹp.

 

 

Món ăn hỗ trợ điều trị bệnh động mạch vành

 

Mọi người đều biết bệnh tim mạch là một trong các “hung thủ” giết nhiều người nhất trong các căn bệnh hiện 

nay. Với sự phát triển của y học hiện đại, chúng ta đã tìm ra căn nguyên của rất nhiều bệnh tim mạch, bên cạnh

cách điều trị của y học hiện đại, một số bài thuốc nam đơn giản nhưng rất hiệu quả trong việc tham gia hỗ trợ

điều trị bệnh động mạch vành tim

-Rễ cây chè: Rễ cây chè hãm với nước sôi, uống. Bài thuốc có tác dụng điều trị chứng rối loạn nhịp đập của tim. Uống liên tục cho đến khi hoạt động tim trở lại bình thường thì thôi.

Nước sâm cam thảo: Dùng 30g sâm, 10g cam thảo sao vàng hãm với nước sôi uống thay nước chè. Bài thuốc có tác dụng điều trị chứng rối loạn nhịp đập của tim.

Nước sắn dây: Dùng 30g củ sắn dây sắc lấy nước. Điều trị bệnh về động mạch vành tim, chữa trị bệnh tăng huyết áp, điếc tai đột ngột.

Hải đới tươi hoặc hải đới ngâm nở 100g, đậu xanh 50g, nước 500ml nấu cháo ngày ăn 1-2 bát, dùng cho người mỡ máu cao, tăng huyết áp, đờm nhiệt ngăn nhiều.

Cháo bột ngô gạo tẻ: Quấy bột ngô trong nước lạnh. Gạo tẻ cho nước vừa đủ, nấu thành cháo, cho bột ngô vào cháo quấy đều, đun sôi thành cháo.

Điều trị có hiệu quả bệnh xơ cứng động mạch, bệnh động mạch vành. Người mắc bệnh mỡ máu cao nên ăn thường xuyên.

Đan sâm: Đan sâm 20g sắc lấy nước uống, chữa trị bệnh động mạch vành, tắc mạch máu não.

Xuyên khung: Xuyên khung 10g, sắc lấy nước uống thường xuyên. Có tác dụng chữa trị động mạch vành, tăng huyết áp, tắc mạch máu não.

Nước nhân trần: Dùng 30g nhân trần, sắc lấy nước uống. Có tác dụng chữa trị về động mạch vành tim, giảm mỡ trong máu.

Rượu hoa hồng: Hoa hồng ngâm rượu (tỷ lệ 30g hoa hồng ngâm trong 500ml rượu), điều trị bệnh động mạch vành tim, tăng huyết áp, tắc mạch máu não có hiệu quả.

Hà thủ ô 15g, thảo quyết minh (hạt muồng) 30g, linh chi 15g, hổ trượng 30g, lá sen 15g, sơn tra 15g, lá chè 15g hãm với nước sôi uống thay chè. Uống lâu dài có thể giảm cholesterol, làm mềm mạch máu, phòng bệnh động mạch vành, bệnh tăng huyết áp... còn có tác dụng chữa bệnh mất ngủ, tiêu phù nề...

Sơn tra 10g, hoa cúc 10g, quyết minh tử 10g, sắc nước uống thay trà, dùng cho người mỡ máu cao, thích ăn cao lương mỹ vị, và kèm có tăng huyết áp, gan dương quá mức bình thường.

Lá cây ngân hạnh: Dùng 30g lá ngân hạnh, sắc lấy nước uống, điều trị bệnh động mạch vành tim có hiệu quả, giảm mỡ trong máu.

Mộc nhĩ đen nấu với đậu phụ, mỗi ngày ăn 2 lần, ăn lâu dài sẽ có hiệu quả chữa xơ vữa động mạch.

Nước rau cần: Dùng 250g rau cần tươi, rửa sạch, nhúng vào nước sôi trong 2 phút, vắt lấy nước, mỗi lần uống 1 cốc nước rau cần, mỗi ngày 2 lần, có tác dụng hạ huyết áp, an thần.

Rong biển 20g, thảo quyết minh 15g, sắc lấy nước uống hằng ngày, có tác dụng giảm huyết áp, giảm mỡ máu.

 

 THAM KHẢOCHỮA  BỆNH MẠCH VÀNH, THIẾU MÁU CƠ TIM.

    Bệnh mạch vành - còn gọi là thiếu máu cơ tim - một nỗi ám ảnh đối với nhiều ngưòi, vì bệnh có thể gây nhiều biến chứng, đôi khi là những biến chứng rất nặng nếu bệnh nhân không được điều trị. Trong Đông có một bài thuôc hỗ trợ điều trị bệnh lsy này rất hiệu quả gồm có 3 vị: Bông trang trắn, sen trắng và đường phèn.

Bông trang trắng còn có tên gọi là lầu, bồ chát, bời lời, cây men sữa, mẫu đơn trắng.Tên khoa học (KH): Pschotria reevesil Wall thuộc họ: Cà phê (RUBIACEAE)

*Mô tả: Cây bông trang trắng, loại cây nhỏ hoặc nhỡ, cao từ 1 -9m, thân nhẵn lá thuôn dài, mọc đối phía cuống hẹp và nhọn lại, phiến lá dài 8-20cm, rộng 2-7,5cm, mặt trên xanh hay xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn. Hoa trắng nhạt mọc thành sim ở đẩu cành. Quả hình cẩu với đài tồn tại, đường kính 5-7mm, chín có màu đỏ, với 2 hạch, mặt hai hạch tiếp giáp nhau phẳng, năm sống và rãnh trên lưng hạch. Mỗi hạch chứa 1 hạt màu đen. Mùa hoa quả: tháng 5-7. Mọc hoang dại ở vùng trung du và các tỉnh đồng bằng

* Bộphận dùng: rễ và lá thu hái quanh năm. Rễ đào về rửa sạch, sấy mỏng, phơi hay sấy khô. Lá dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.

*Công dụng và liều dùng: Rễ dùng làm thuốc chữa đau răng, viêm tai, băng huyết, đái ra máu, đắp vết thương, vết loét, chữa rắn cắn. Liều dùng 10-20g rễ dưới dạng thuốc sắc hay giá nát đắp. Lá cũng cùng 1 công dụng, dùng ngoài, không kể liều lượng. Có 1 số nơi còn dùng chữa lị, có kết quả. Nhân dân Sơn La gọi Bông trang trắng là Hé Mọ.Bỏng trang trắng hoa màu trắng có nhiều ở Đà Lạt. Người dân ở đây cũng thường dùng Bông trang trắng để chữa những loại bệnh như đã nói ở trên. Nó còn có tác dụng rất tốt trong điều trị huyết áp cao, hoạt huyết giảm sưng, giảm đau.Theo Đông y, cây Bông trang trắng có vị ngọt nhẹ, tính mát có tác dụng hạ huyết áp, hoạt huyết, giảm sưng, giảm đau, trị ho đờm.

Bông sen còn có tên là liên, quỳ.

Tên khoa học:
 Nelumbo nucífera Gaertn    (Nelumbium nuciferum Gaertn., Nelumbium speciosum Willd ).Thuộc họ: Sen (NELUMBONACEAE)

Sen là một cây mọc dưới nước, thân rễ hình trụ mọc ở trong bùn thường gọi là Ngó sen hay ngẫu tiết, ăn được, lá (Liên diệp) mọc lên khỏi mặt nước, cuống lá dài, có gai nhỏ; phiến lá hình khiên, to, đường kính 60-70cm có gân tỏa tròn. Hoa to màu trắng hay đỏ hổng, đểu, lưỡng tính.Đài 3-5cm, màu lục.Tràng gồm rất nhiều cánh màu hồng hay trắng một phần; những cánh ngoài có màu lục như lá đài. Nhị nhiều, bao phấn 2 ô, nứt theo một kẽ dọc. Trung đới mọc dài ra thành một phẩn hình trắng thường được gọi là gạo sen dùng để ướp chè. Nhiều lá noãn rời nhau đựng trong 1 đế hoa loe ra thành hình nón ngược gọi là gương sen hay Liên phòng. Mỗi lá noãn có 1 -2 tiểu noãn. Quả (thường gọi là Hạt sen) chứa một hạt (Liên nhục) không nội nhũ. Hai lá mẩm dày, chồi mẩm (Liên tâm) gổm 4 lá non gập vào phía trong. Sen được trổng ở nhiểu nơi trong nước ta để ăn và dùng làm thuốc. Hái vào mùa thu các tháng 7-9.
 

làm thế nào
Làm thế nào chữa bệnh thiếu máu cơ tim bằng thuốc nam?


*Công dụng và liều dùng: từ Bông sen, lá, củ sen, hạt sen...đều dễ dàng chế biến lưu thông, tăng cường sức khỏe. Củ sen chứa nhiều protein và Vitamin c, giúp tuần hoàn máu, giảm nhiệt, tăng cường chức năng tim mạch và dạ dày, làm giảm các vết thâm tím do tụ máu dưới da. Hạt sen có tác dụng kích thích ăn ngon, hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng, dưỡng thẩn, tăng khí huyết, giúp ngủ ngon, phục hồi sức khỏe.Tim sen có vị đắng, tính hàn, có công dụng thanh tâm, hạ huyết áp, cắm máu...dùng để chữa các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, mất ngủ hay hổi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, tâm phế mãn , thổ huyết; cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim nhờ khả năng làm giãn thành mạch máu, giảm lượng tiêu thụ oxy của cơ tim và cải thiện lưu lượng tuần hoàn động mạch vành. Ngày uống 4-10g tim sen khô dưới dạng hãm nước sôi với những bệnh nhân có rối loạn thẩn kinh tim, mất ngủ rất tốt.

Với bệnh lý thiểu dưỡng cơ tim (còn gọi là thiểu năng mạch vành) -thường gặp trong bệnh lý vữa xơ động mạch, chẩn đoán dương tính bệnh lý này chỉ cẩn qua điện tâm đổ đơn giản với các đạo trình trước tim và đơn cực tứ chi và qua các xét nghiệm máu sinh hóa về nhóm mỡ máu . Bệnh thường gặp ở người cao tuổi; và những người có rối loạn nhóm mỡtrong máu mà điển hình là triglycerit và LDL tăng cao. về lâm sàng, có những cơn đau thắt ngực trái ở vùng trước tim và sau xương ức, đau lan lên cổ, hàm, vai, cánh tai trái, có thể xuyên ra sau lưng hoặc từ lưng xuyên qua vùng tim. Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, nhất là những lúc phải gắng sức, khi bị nhiễm lạnh, ăn uống quá no say, tình cảm kích động mạnh.Tuy nhiên, cơn đau cũng có thể xuất hiện bất chợt vào thời điểm bất kì trong ngày. Thông thường cơn đau chỉ kéo dài 1 -5 phút, nghỉ ngơi 1 lát hoặc uống thuốc ( ngậm viên Nitroglycerin) dưới đẩu lưỡi là thấy dễ chịu .Trường hợp bệnh nặng, có thể đau kịch liệt, cơn đau kéo dài, da niêm mạc trắng xanh , môi tím tái, vã mổ hôi lạnh, chân tay tê dại.

Với kinh nghiệm dân gian,việc dùng Bông trang trắng, Bỏng sen trắng và đường phèn với bệnh nhân thiểu dưỡng cơ tim có cơ sở khoa học và rất đáng tin, hoàn toàn không có một tác dụng phụ nào.

*  Liều lượng cho một lần uống: Bông trang trắng và hoa sen trắng hái về rửa rất nhẹ tay bằng nước máy, không phun mạnh sẽ làm rụng hết hoa , mỗi thứ khoảng 10g, cho vào 2g đường phèn với một ít nước sạch trên hoa và đường phèn, cho vào bát ăn cơm để trong nồi cơm vừa cạn nước đậy kín nổi. Sau khi chín cơm, lấy bát chưng cách thủy, để nguội chia 2 lần uống sau cơm trưa và tối.

*    Xin lưu ý: với bệnh lý tim mạch nói chung, bệnh lý mạch vành nói riêng trong chế độ ăn uống việc kiêng khem là rất cẩn thiết, như tập ăn nhạt, uống nhiều nước trung bình mỗi ngày dưới 2 lít nước, không bia rượu thuốc lá, ăn nhiều rau xanh sạch,hoa quả màu đỏ , hạn chế mỡ động vật, không ăn quá no vào buổi tối, khám định kỳ sức khỏe.

                                                                                  LY NGUYỄN VIẾT HƯƠNG

ĐẠI CƯƠNG Bệnh tim mạch vành - wikipedia.com

Căn  Bệnh tim mạch vành, BỆNH TIM MẠCH là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếudưỡng khí. Các tên gọi khác của bênh này là bệnh mạch vànhbệnh động mạch vànhbệnh tim do xơ vữa động mạch,bệnh tim thiếu máu cục bộ.

CÁC Triệu chứng

Đau thắt ngực (ĐTN) là triệu chứng thường gặp và điển hình của bệnh mạch vành.

- Tính chất đau: cảm giác như bó chặt hoặc đè nặng, hoặc ngược lại như nhói châm, ran, có khi là cảm giác nóng rát. Bệnh nhân hay mô tả là nhiệt hoặc hỏa bốc lên từ chính giữa ngực lên nghẹn ở cổ, hoặc bóp nghẹt lấy cổ gây cảm giác khó thở hoặc ngộp thở.

- Đôi khi bệnh nhân chỉ thấy hồi hộp, hẫng, hụt hơi và mệt ở ngực mà thôi, kèm theo đó có thể là chóng mặt, hoảng hốt, đau nhẹ ở tim (đau ngực, đau nhói ở ngực...)

- Đau thường lan tỏa: lan xuyên lồng ngực, ra phía sau, lên phía hai vai, có khi dọc từ cánh tay xuống cẳng tay...

Lý Do - Nguyên nhân

Bệnh chủ yếu là sự tích tụ mảng xơ vữa động mạch bên trong thành động mạch cung cấp máu đến cơ tim. Thông thường cơn đau thắt ngực có thể xảy ra khi động mạch vành bị hẹp trên 50% khẩu kính của lòng mạch. Khi hoạt động thể lực, cơ thể cần nhiều oxy hơn nên cơ tim phải làm việc nhiều hơn. Nếu một nhánh của động mạch bị hẹp, sự cung cấp máu cho vùng cơ tim tương ứng trở lên không đầy đủ. Cơ tim bị thiếu máu và thiếu oxy gây đau thắt ngực.

Bệnh động mạch vành không nhất thiết phải xảy ra một cách từ từ. Nếu mảng xơ vữa bị vỡ ra có thể gây tắc mạch đột ngột hay tạo thành cục huyết khối (máu đông) gây tắc mạch. Lúc này động mạch bị tắc hoàn toàn gây ra nhồi máu cơ tim.

 Diễn Tiến

Bệnh có thể diễn tiến hàng thập kỉ trước khi có biểu hiện lâm sàng. Sau nhiều thập kỉ tiến triển, một số mảng xơ vữa có thể gây hẹp hoặc vỡ và (cùng với sự kích hoạt hệ thống đông máu) bắt đầu giới hạn lưu lượng máu đến cơ tim. Hiện nay có quan điểm cho rằng quá trình viêm nội mô động mạch thúc đẩy tiến triển của bệnh, mặc dù chi tiết chưa được biết rõ.

Tùy theo độ nghẽn của mạch vành, người bệnh có thể có nhiều triệu chứng khác nhau như đau thắt ngực hay biến chứng nhồi máu cơ tim và chết.

CÁCH Chữa trị

- Người bệnh phải dùng thuốc dài hạn, từ năm này qua năm khác và phải được khám điều đặn theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa tim. Vì bệnh có liên quan đến một loạt các căn bệnh khác như tăng huyết áp, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần phải tập luyện thế dục hằng ngày và ăn kiêng đều đặn.

Điều trị nội khoa: điều trị băng thuốc, có thể dùng một hoặc nhiều loại thuốc kết hợp với nhau - vasopolis đơn độc, dùng lâu dài hoặc kết hợp với các nhóm hạ mỡ máu (cholesterol máu) trong 1 giai đoạn đầu.

Điều trị ngoại khoa: phẫu thuật làm cầu nối chủ - vành, kỹ thuật nong động mạch vành, đặt stent.

Phòng bệnh

- Thay đổi chế độ ăn uống sinh hoạt hàng ngày: hạn chế ăn mỡ động vật, cai rượu bia, cai thuốc lá, giảm cân, kiểm soát huyết áp, đường huyết, tập thể dục đều đặn...

- Phòng bệnh mạch vành, tăng mỡ máu bằng các thảo dược (vasopolis)


Các dấu hiệu thường thấy để chẩn đoán bệnh tim

Căn bệnh thế kỉ Bệnh tim mạch đang là mối hiểm hoạ, nó bí mật tiến triển âm thầm trong trái tim mỗi người như một tên "gián điệp", đến một ngày nào đó, khi tác hại của nó phát tiết mạnh thì chúng ta mới phát hiện được.

Ngay đó, các thầy thuốc dù có chẩn đoán đúng và các phương tiện điều trị có hiện đại cũng phải chi phí rất tốn kém mà mạng sống đôi khi cũng chỉ là may rủi. Mỗi người đến một ngày nào đó cũng có thể là một bệnh nhân bị bệnh tim mạch. Bệnh tim có thể tránh được không? Câu trả lời là có thể được bằng cách phát hiện thật sớm tên "gián điệp" kia từ những dấu hiệu sớm của bệnh.

Một Người bị bệnh tim có thể có một số dấu hiệu sau:

1. Khó thở, nhất là khi gắng sức như lên cầu thang, đi bộ đường xa, sinh hoạt tình dục...

2. Đau ngực trái, có thể chỉ là cảm giác nghẹn nghẹn, hoặc cảm giác "hẫng" trong ngực, đau có thể chỉ xuất hiện khi gắng sức, cũng có thể ngay cả khi nghỉ ngơi.

3. Có thể phù chân, nhất là vào buổi chiều, cảm giác nặng chân, sáng đi dép lỏng chiều đi dép chật.

4. Béo phì. Làm sao biết mình béo phì? Lấy cân nặng tính bằng kg chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét dài, nếu trên 23 là bắt đầu thừa cân, và trên 25 là béo phì.

5. Hút thuốc lá hơn 20 điếu mỗi ngày. Thuốc lá làm tổn thương vi tuần hoàn rất sớm, rất nhanh và mạch vành tim cũng bị tổn thương rất nhiều.

6. Tím môi, tím móng chân, tím móng tay, biến dạng làm móng chân, móng tay bẹt nhiều.

7. Có cơn ngất trong tiền sử.

8. Hay hồi hộp đánh trống ngực.

9. Hay ngủ mê, bóng đè.

10. Gia đình có người cùng huyết thống bị bệnh tim mạch, tăng huyết áp.

11. Đã có lần đi xét nghiệm và bác sĩ cho biết có tăng mỡ máu như tăng cholesteron, triglyceride.

12. Đã có chẩn đoán của chuyên khoa nột tiết là đái tháo đường.

13. Đã có hoặc đang đau khớp, kèm viêm họng, điều này cần quan tâm nhiều hơn đối với trẻ em.

14. Hay bị viêm nhiễm hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản, nhất là tái phát nhiều lần ở trẻ em.

15. Tình cờ đi khám thấy có tiếng tim lạ, tiếng thổi ở tim.

16. Gan to.

17. Các tĩnh mạch nông ở chân giãn nhiều.

18. Các đầu ngón chân hay tê lạnh, buốt.

Các dấu hiệu trên đây không phải cứ thấy là có bệnh tim, nhưng nếu có bệnh tim là thường có một hoặc nhiều dấu hiệu đó. Nếu thấy có các dấu hiệu trên, nên đến thầy thuốc mà mình đặt niềm tin nhất khám và tư vấn. Nếu phát hiện thấy bệnh tim mạch thì vẫn còn cơ hội chữa khi chưa quá muộn. Nếu không thấy bệnh lí là điều hạnh phúc nhất, yên tâm về tâm lí và bắt đầu cảnh giác với nó. Khám sức khỏe tim mạch lúc nào cũng hữu ích và tiết kiệm.

Các địa chỉ có thể tin tưởng để tư vấn về bệnh lí tim mạch, như Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam.

Việc Dùng sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch.

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch.

Theo thống kê của Viện Tim mạch Việt Nam, trong 60 năm gần đây, tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch trên 25 tuổi ở nước ta tăng khoảng 20%. Để phòng bệnh, theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), một trong những cách hiệu quả là dùng sữa đậu nành mỗi ngày.

Căn Bệnh tim mạch và lợi ích đa dạng của đậu nành

 

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch thường liên quan đến chế độ dinh dưỡng và lối sống. Theo đó, mọi người cần tập thể dục thường xuyên và hạn chế ăn mặn, thay mỡ động vật bằng dầu thực vật, ăn nhiều rau và trái cây tươi...

 

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 1

Ngoài ra, đậu nành chính là một trong những thực phẩm giúp ngừa bệnh tim mạch hiệu quả và được FDA khuyên dùng hàng ngày.

Gần đây các nhà khoa học Mỹ đã tìm thấy mối tương quan có lợi giữa bệnh tim mạch và đậu nành khi so sánh số người mắc bệnh tim mạch ở Nhật và Mỹ. Cụ thể, tỷ lệ người Nhật mắc bệnh tim mạch luôn ít hơn nhờ họ có chế độ dinh dưỡng với nhiều đạm thực vật trong đó chủ yếu là đạm đậu nành, kèm theo vận động thường xuyên.

 

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 2

 

Đậu nành cũng như sữa đậu nành có tác dụng giúp giảm cholesterol xấu và ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám thành động mạch. Đặc biệt, uống sữa đậu nành thường xuyên còn giúp tránh sự tích tụ mỡ vùng bụng - nhất là với phụ nữ mãn kinh, một hiện tượng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Thêm vào đó, sữa đậu nành có rất ít bột đường nên cũng có lợi cho những bệnh nhân béo phì, tiểu đường.

 

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 3

Dùng sữa đậu nành an toàn

 

Các chế phẩm từ đậu nành, sữa đậu nành là thông dụng nhất. Không chỉ thơm ngon, thức uống này còn rất giàu đạm và axít amin thiết yếu, nhiều vitamin nhóm B, E, các khoáng chất Ca, Fe, Mg, K, Na, và chứa hoạt chất isoflavone có tác dụng rất tốt với phụ nữ.

 

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 4

 

Với những phát hiện về công dụng phòng chống bệnh tim mạch, sữa đậu nành đang ngày càng được người tiêu dùng quan tâm. Hiện trên thị trường có nhiều sản phẩm sữa đậu nành hộp giấy do các thương hiệu lớn như được sản xuất theo công nghệ tiệt trùng UHT hiện đại, vừa đảm bảo chất lượng tốt, vừa an toàn vệ sinh.

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 5

 

 

Ưu điểm vượt trội của sữa đậu nành hộp giấy

Sữa đậu nành hộp giấy sản xuất theo công nghệ tiệt trùng UHT như sau: Hạt đậu nành chất lượng cao được đưa vào quy trình ngâm ủ, chế biến ở 136-140 độ C trong thời gian ngắn, rồi làm nguội nhanh ở 25 độ C, giúp giữ lại tối đa dưỡng chất và tiêu diệt hết vi khuẩn. Sữa thành phẩm sau đó được đóng trong bao bì giấy tiệt trùng 6 lớp.

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 6

Các chất bảo quản được dùng trong thực phẩm chế biến sẵn là để ngăn vi khuẩn có hại gây hỏng sản phẩm. Nhưng với sữa đậu nành hộp giấy, nếu coi vi khuẩn là “đạn” thì đạn này không thể lọt qua vỏ hộp giấy tiệt trùng 6 lớp vì đây được xem như một bức “tường thép” chống đạn kiên cố. Đó chính là lý do giải thích tại sao sữa đậu nành hộp giấy không cần dùng chất bảo quản mà vẫn tươi ngon trong thời gian 6 tháng.

Uống sữa đậu nành giúp phòng trị bệnh tim mạch - 7

Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), mỗi người nên dùng 25gr đạm đậu nành mỗi ngày, tương đương uống 2 hộp sữa đậu nành/ngày.


Phương pháp đơn giản phòng ngừa bệnh tim mạch

Với  những điều tưởng chừng rất đơn giản trong cuộc sống nhưng lại có thể giúp bạn giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch rất hiệu quả. 

Hãy Chia sẻ bí quyết chăm sóc SỨC KHỎE cho mọi nhà!

 
 

1.Phải  Ăn nhiều rau xanh, hoa quả và cá

Các chất dinh duỡng có trong các loại rau xanh vô cùng phong phú. Các chất chống oxy hóa trong chúng giúp tăng cường sức khoẻ cho hệ tim mạch

Chất chống oxy hoá làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim nhờ khả năng chống viêm của chúng đối với cac mạch máu. Đồng thời, chúng giúp loại bỏ sự tích tụ mảng bám trong động mạch.

Những loại trái cây và rau quả, chẳng hạn như cam, chuối và nấm cũng có rất nhiều kali giúp điều hoà huyết áp. Các bác sĩ khuyến nghị bạn nên ăn 5-9 phần ăn trái cây và rau quả (ba loại rau và 2 loại trái cây khác nhau) mỗi ngày nhằm bảo đảm cung cấp sự cân bằng các chất dinh duỡng mà cơ thể cần.

Ngoài ra, bổ sung hải sản vào thực đơn hàng ngày cũng rất quan trọng, đặc biệt là cá. Bạn nên bổ sung các loại cá như: cà hồi, cá mòi… trong chế độ ăn uống của bạn 2 lần/ tuần, giúp cơ thể được bổ sung  axit béo omega-3. Chất béo này cũng có khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim bằng cách chúng làm giảm huyết áp và triglycerides của bạn.

5 cách đơn giản phòng ngừa bệnh tim mạch - 1

Ăn nhiều rau xanh, hoa quả giúp phòng ngừa bệnh tim mạch

2. giảm các chất béo có hại

Chế độ ăn uống ít chất béo được coi như một “tấm lá chắn” giúp bạn chống lại các căn bệnh tim mạch. Điều bạn nên làm là cố gắng cắt giảm lượng chất béo bão hoà có trong các sản phẩm từ bơ, sữa, thịt… trong khẩu phần ăn hàng ngày. Đây là thủ phạm khiến mức độ cholesterol xấu tăng và làm giảm cholesterol tốt.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, các bữa ăn hàng ngày chỉ nên có khoảng 1% lượng thức ăn có chứa chất béo bão hoà. Ngoài ra, những loại thực phẩm như bơ thực vật, dầu, thức ăn chiên xào và bánh ngọt cũng không tốt cho những người bị bệnh tim mạch, vì thế hãy hạn chế với những loại đồ ăn này.

Có những điều rất đơn giản trong cuộc sống dưới đây lại có thể giúp bạn giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Ảnh minh họa

3. Biết rõ tình trạng sức khoẻ của mình

Biết rõ về tình trạng sức khoẻ của mình sẽ giúp bạn khỏe mạnh hơn. Hãy tới bác sĩ để kiểm tra lượng cholesterol, lượng đường trong máu, và các dấu hiệu của bệnh tiểu đường, huyết áp để biết chắc chắn về tình trạng sức khoẻ hiện tại của mình. Nếu bạn có nguy cơ nếu mắc những bệnh liên quan đến tim mạch thì bác sĩ sẽ hướng dẫn cách điều chỉnh chế độ ăn uống, làm việc, tập thể dục… sao cho phù hợp nhất với bạn.

Một điều quan trọng khác là, những bệnh liên quan đến tim mạch có phần  nhiều yếu tố là do di truyền. Vì vậy, nếu trong gia đình bạn có tiểu sử bị bệnh thì bạn càng cần chú ý và đi kiểm tra sức khỏe sớm.

4. Chăm chỉ tập luyện thể dục

Tập thể dục có thể làm tăng lipoprotein mật độ cao -  thường được gọi là cholesterol "tốt", và giảm lipoprotein mật độ thấp -  cholesterol "xấu". 

Bạn không nhất thiết phải tập thể dục ở một cường độ cao, chỉ cần 30 phút đi bộ mỗi ngày cũng đã giúp điều hoà hệ tim mạch, tăng cường nhịp tim, giảm những nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

5. Không hút thuốc lá, rượu bia


Hãy nói không với thuốc lá. Hút thuốc dẫn đến nguy cơ phát triển bệnh tim mạch vành 2-4 lần. Đồng thời, hút thuốc còn làm hẹp động mạch, tăng huyết áp và dày máu khiến nhiều khả năng bị đông máu, là nguyên nhân dẫn đến những cơn đau tim. 

Đặc biệt, nếu bạn hút thuốc, những người xung quanh cũng sẽ bị “hút thuốc thụ động”. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ những người xung quanh bạn. Những người không hút thuốc nhưng nếu thường xuyên bị tiếp xúc với khói thuốc lá cũng có nguy cơ gây ra bệnh tim.

Chẩn bệnh và điều trị bệnh động mạch vành như thế nào?

Với ý kiến các nhà chuyên môn, để chẩn đoán chính xác bệnh động mạch vành, các đánh giá cơ bản bao gồm: Điện tâm đồ, liệu pháp gắng sức, chụp mạch vanh, chụp mạch CT cắt lớp đa lớp. Độ chính xác của việc chiếu chụp để phát hiện bệnh động mạch vành là tới trên 90%.

 
 
 

Chuyên gia tim mạch cho rằng, các bệnh nhân bị bệnh động mạch vành có thể được điều trị bằng thuốc đơn thuần hoặc có thể kết hợp cùng các thủ thuật can thiệp y học.

Thông thường, thuốc được dùng để điều trị bệnh hẹp động mạch vành và kiểm soát các nguy cơ gây bệnh động mạch vành như huyết áp và cholesterol cao, đồng thời nó cũng có khả năng làm giảm nguy cơ đột quỵ và kéo dài sự sống.

Các thuốc điều trị thường bao gồm: chất chống tiểu cầu có tác dụng phòng ngừa cục huyết khối, chất khóa beta làm giảm nhịp tim và từ đó giảm lượng oxy cần thiết cung cấp cho cơ tim, nitrates giúp mở động mạch tim, statins có tác dụng làm giảm lượng cholesterol, chất ức chế ACE (làm giảm áp lực máu và co thắt).

Ngoài ra, đối với một số trường hợp, thủ thuật đơn giản là đặt ống thông mạch tim được tiến hành từ cánh tay hoặc cẳng chân giúp cải thiện lượng máu lưu thông.

Bệnh động mạch vành là bệnh ngày một nặng dần theo thời gian và cần được điều trị kiểm soát lâu dài. Tuy nhiên, một khi bệnh nhân đã được điều trị đúng cách và tình trạng của bệnh nhân ổn định thì việc thay đổi thói quen sinh hoạt (tâp thể dục, có chế độ ăn kiêng hợp lý, kiểm soát cân nặng và từ bỏ thuốc lá) kết hợp với việc dùng thuốc thì phần lớn sẽ có hiệu quả trong việc kéo dài sự sống cũng như làm giảm cho tới hết triệu chứng đau thắt ngực.

Bệnh tim mạch và huyết áp cao ?

 SỰ GIA TĂNG huyết áp là nguyên nhân chính hình thành cục máu đông

Tăng huyết áp khiến sức ép trong lòng mạch tăng cao làm cho bề mặt bên trong  mạch máu bị rạn nứt tạo điều kiện cho phân tử mỡ lọt xuống thành mạch máu kéo theo các bạch cầu và một số các thành phần khác, thành mạch máu khi đó bị dày lên tạo thành mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa làm mạch máu hẹp lại, cản trở sự lưu thông của máu, các thành phần của máu bị cản trở lưu thông gắn kết vào nhau tạo thành khối liên kết hay còn gọi là cục máu đông. 

 
 

 

Cục máu đông - Nguyên nhân  gây tai biến, đột quỵ hoặc tử vong
Mạch máu là con đường cung cấp chất dinh dưỡng, oxi… đến cho các cơ quan, nếu con đường này bị bít tắc, các cơ quan sẽ không tồn tại và hoạt động được.
“Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh tim và đột quỵ - hai căn bệnh này là nguyên nhân số 1 thế giới gây tử vong sớm và tàn tật.
Những  nghiên cứu cũng chỉ ra  “người có huyết áp bình thường vào tuổi 55, có đến 90% sẽ bị tăng huyết áp vào những năm sau đó.
Nguồn: Tổ chức y tế thế giới (WHO)
Cục máu đông xuất hiện sẽ làm tắc mạch máu dẫn tới các cơ quan, các mạch máu càng nhỏ, nguy cơ bít tắc càng cao. Trên thực tế những cơ quan càng quan trọng thì những mạch máu càng bé nhỏ và dễ bít tắc. Do vậy cục máu đông được xác định là nguyên nhân trực tiếp của những bệnh tim mạch nguy hiểm như: bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, suy tim, bệnh động mạch ngoại vi và bệnh mạch máu thận. Những biến chứng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh mà còn gây ra những gánh nặng lớn về chi phí điều trị cho cả gia đình và xã hội.
 
 
Tập luyện thế nào để tim khỏe mạnh?

 

 
Ðộng mạch vành (ÐMV) rất quan trọng, có nhiệm vụ đưa máu về để nuôi tim. Nếu động mạch vành bị tắc nghẽn sẽ rất nguy hiểm. Hiện nay, bệnh ÐMV đang là căn nguyên nguy hiểm gây tử vong số 1 trong các bệnh lý về  tim mạch. Có nhiều phương pháp tập luyện để trái tim được khỏe mạnh.

Bệnh ĐMV là một bệnh lý do tích tụ mảng xơ vữa trong lòng ĐMV, thường phát triển ở người lớn tuổi và trung niên. Một số danh từ khác được dùng để chỉ bệnh ĐMV như suy ĐMV, thiếu máu cơ tim, thiểu năng vành, bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ…
 
Những nguyên nhân và triệu chứng

Tăng huyết áp là nguy cơ chính gây bệnh. Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ĐMV là xơ vữa động mạch - một tiến trình chậm chạp kéo dài với sự lắng đọng từ từ của các mảng bám vào mạch trong thành động mạch, làm cho thành động mạch ngày càng dày lên, cứng lại và mất tính đàn hồi.Khi lớn tuổi, đặc biệt ở nam giới trên 45 tuổi và nữ giới trên 55 tuổi thì nguy cơ mắc bệnh ĐMV rất cao. Ngoài ra, đái tháo đường, tăng mỡ máu, thừa cân hay béo phì, ít vận động, thuốc lá, rượu bia cũng chính là những nguy cơ gây bệnh.

Biểu hiện điển hình của bệnh ĐMV là cơn đau ngực, cơn đau có thể xuất hiện bất cứ lúc nào ở ngực trái vùng trước tim, vùng sau xương ức. Đôi khi đau lan lên cổ, hàm, vai, cánh tay trái hoặc ra sau lưng. Bệnh nhân thường có cảm giác ngột ngạt, tức ngực, như có vật gì thắt lấy vùng tim, đôi khi có cảm giác như tê bỏng. Căn cứ vào mức độ và biểu hiện lâm sàng, chứng xơ cứng ĐMV phân ra làm 5 loại hình: bệnh ĐMV cấp tính, đau thắt tim, tắc động mạch cơ tim, tim luật thất thường và tim sơ yếu kiệt lực. 
 Đi bộ đều sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh.
Ưu tiên số một là phòng ngừa bệnh

Bệnh ĐMV là căn bệnh thường không được phát hiện sớm, đến khi có triệu chứng xuất hiện thì bệnh đã khá nặng. Do vậy, cách phòng bệnh tốt nhất là phải tầm soát các yếu tố, nguy cơ, kiểm soát chúng, đồng thời phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời. Ngoài ra, nên thay đổi lối sống, không hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều, nên tránh các loại thực phẩm làm tăng huyết táp, giảm ngay việc ăn mặn nếu như bị chứng huyết áp cao. Hạn chế các loại thực phẩm có độ béo và lượng cholesterol cao.
 
Trong khi phương pháp điều trị nong hoặc đặt giá đỡ ĐMV đều bế tắc thì mổ bắc cầu ĐMV sẽ là giải pháp hữu hiệu nhất để giúp căn bệnh hiểm nghèo này. Phẫu thuật bắc cầu ĐMV là phương pháp sử dụng các mạch máu khỏe mạnh từ chân, tay, ngực, bụng làm cầu nối giúp máu lưu thông đến nuôi vùng cơ tim sau vị trí tắc nghẽn.
 
Thể thao để tim khỏe

Theo các chuyên gia y học thể thao, những người mắc bệnh ĐMV nên tham gia tập luyện TDTT, đặc biệt là những môn thể thao thích hợp sẽ giúp tăng cường cung cấp dưỡng khí cho cơ tim, thúc đẩy phát triển tuần hoàn nhánh và tăng lượng huyết lưu của tuần hoàn nhánh, đồng thời, những bài tập phù hợp cũng giúp đỡ cho cơ tim giảm thiểu lượng dưỡng khí tiêu hao, tăng khả năng phản ứng của hệ thống tuần hoàn, giúp cải thiện quá trình thay thế chất béo, giảm thấp lượng cholesterol trong máu.
 
Đối với những người thể trạng yếu có thể tập các môn thể thao như đi bộ, chạy chậm đều, đi xe đạp, bơi lội… theo phương thức luyện tập vài phút thì tạm nghỉ bằng thời gian tập hoặc nghỉ gấp đôi thời gian tập, tiếp tục lặp đi lặp lại như thế trong tổng thời gian khoảng 30-40 phút cho một lần tập luyện. Tiến hành tập luyện như thế đến khi thể lực được tăng cường mới lại kéo dài thời gian tập. Điều quan trọng trong tập luyện thể thao không phải là tập nhiều, hết sức mà là duy trì đều đặn, thường xuyên một cách có hệ thống và phù hợp với thể lực của mình.  
 
Rối loạn chức năng cương dương dễ mắc bệnh tim mạch
Theo một báo cáo mới đây thì nên đánh giá và tính đến chức năng tình dục của nam giới khi họ được kiểm tra các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch.

 Tác giả đứng đầu nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ Ajay Nehra, giám đốc Đơn vị Sức khỏe nam giới, Khoa Niệu học thuộc Trung tâm y tế Đại học Rush ở Chicago, đã làm việc với hơn 20 chuyên gia khác để xác nhận kết quả của họ. Nghiên cứu giải thích rằng rối loạn chức năng cương dương là một yếu tố nguy cơ ở nam giới dưới 55 tuổi đối với bệnh tim mạch. Ở một số nam giới được chẩn đoán ED, tai biến tim mạch có thể xảy ra trong vòng 2-5 năm. 
Nehra cho biết “Bất kỳ người nào bị ED đều nên cân nhắc nguy cơ tim mạch tăng cao hơn cho tới khi làm thêm các xét nghiệm. ED thường xảy ra cùng với sự tồn tại bệnh tim mạch ‘câm’, có triệu chứng; và do đó đây là một cơ hội để giảm nguy cơ tim mạch”.
 
Các tác giả khuyến nghị rằng nam giới trên 30 tuổi bị ED nên được đánh giá cẩn thận về bệnh tim mạch, vì họ cho rằng những người này có nguy cơ cao bị bệnh tim mạch.
 
Nam giới bị ED có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp đôi so với nam giới không bị ED. Bị ED khi tuổi càng trẻ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao.
 
Các thử nghiệm gần đây cho biết nồng độ testosteron thấp có liên quan với ED, bệnh tim mạch và tử vong do bệnh tim mạch. Do đó, nam giới cũng nên được xét nghiệm để đánh giá nồng độ testosteron. Các thử nghiệm ở hơn 500 bệnh nhân cho thấy nồng độ testosteron thấp dẫn tới nguy cơ tử vong cao hơn.

 Nehra nói “Nồng độ testosteron nên được đánh giá thường quy. Nam giới có nồng độ testosteron dưới 230 có nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân và tử vong do bệnh tim mạch cao hơn”.
Bằng chứng về ED liên quan với bệnh tim mạch ở nam giới dưới 40 đang tăng nhanh. Một thử nghiệm giải thích rằng nam giới 40-49 tuổi bị ED có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao hơn 50% so với nam giới không bị ED.

Nam giới có thể được lợi với những đánh giá về tim mạch bao gồm xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu và hành vi lối sống, cũng như tiền sử sức khỏe gia đình để xác định liệu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ hay không. Điều này sẽ trợ giúp cho việc quyết định điều trị thích hợp.
 
Theo Nehra “Điều đó có nghĩa là các bác sĩ điều trị cho nam giới bị ED giữ vai trò quan trọng trong việc giúp kiểm soát và bắt đầu giảm nguy cơ tim mạch của bệnh nhân, ngay cả khi bệnh nhân không có triệu chứng”.
Kết quả này, cùng với lời khuyên cho các bệnh nhân bị ED được đăng trên Mayo Clinic Proceedings trong số ra tháng 8 năm 2012.
TP
<< Văn bản >>